| Tiêu đề văn bản | Nghị định về đăng ký doanh nghiệp | ||
| Số hiệu | 43/2010/NĐ-CP | Cơ quan ban hành | Chính phủ |
| Phạm vi | Ngày ban hành | 15/04/2010 | |
| Ngày hiệu lực | 01/06/2010 | Trạng thái | Đã có hiệu lực |
| Loại tài liệu | Nghị định | Người ký | Nguyễn Tấn Dũng |
Số: 43/2010/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2010
NGHỊ ĐỊNH
VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Quản lý Thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
Điều 9. Cơ quan đăng ký kinh doanh
1. Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) và ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), bao gồm:
a) Ở cấp tỉnh: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư (sau đây gọi chung là Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh).
Thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có thể thành lập thêm một hoặc hai cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và được đánh số theo thứ tự. Việc thành lập thêm cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân thành phố quyết định.
Ủy ban nhân dân các thành phố: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, sau khi thống nhất với Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xem xét thí điểm chuyển cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sang hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu.
b) Ở cấp huyện: thành lập Phòng Đăng ký kinh doanh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có số lượng hộ kinh doanh và hợp tác xã đăng ký thành lập mới hàng năm trung bình từ 500 trở lên trong hai năm gần nhất.
Trường hợp không thành lập Phòng Đăng ký kinh doanh cấp huyện thì Ủy ban nhân dân cấp huyện giao Phòng Tài chính – Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh quy định tại Điều 11 Nghị định này (sau đây gọi chung là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện).
2. Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và Phòng Đăng ký kinh doanh cấp huyện có tài khoản và con dấu riêng.
…….
>> Tải Nghị định tại đây: Nghị định 43_2010 về đăng ký doanh nghiệp
>> Đọc thêm Thủ tục thành lập công ty/doanh nghiệp mới nhất nhé.
1. Khái quát về Nghị định 43/2010/NĐ- CP
Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp là một văn bản quan trọng, được Chính phủ Việt Nam ban hành vào ngày 15/04/2010. Nghị định này ra đời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập, hoạt động, và giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam. Nghị định quy định chi tiết về thủ tục, quy trình đăng ký doanh nghiệp và những vấn đề pháp lý liên quan, giúp các doanh nghiệp dễ dàng tuân thủ pháp luật, đồng thời góp phần tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh.
Dưới đây là những nội dung chính và chi tiết hơn về Nghị định này:
1.1 Phạm vi điều chỉnh
Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định về thủ tục đăng ký doanh nghiệp và đăng ký hộ kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2005. Các loại hình doanh nghiệp được điều chỉnh bởi Nghị định này bao gồm:
- Công ty TNHH (Trách nhiệm hữu hạn) một thành viên và hai thành viên trở lên.
- Công ty cổ phần.
- Công ty hợp danh.
- Doanh nghiệp tư nhân.
Nghị định này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân thành lập và đăng ký kinh doanh tại Việt Nam, kể cả người nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.
1.2 Một số nội dung chính
- Quy trình và thời gian xử lý hồ sơ:
Nghị định này cũng quy định rõ ràng về quy trình xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Sau khi doanh nghiệp nộp đầy đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ và cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 5 ngày làm việc. Nếu hồ sơ không hợp lệ, cơ quan này sẽ thông báo rõ ràng các nội dung cần sửa đổi, bổ sung để doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh.
Trong trường hợp hồ sơ bị từ chối, cơ quan đăng ký kinh doanh phải giải thích lý do từ chối và hướng dẫn doanh nghiệp khắc phục.
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp:
Nghị định 43/2010/NĐ-CP cũng quy định việc xây dựng và duy trì Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đây là hệ thống thông tin lưu trữ tất cả các dữ liệu liên quan đến việc đăng ký, thay đổi thông tin doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp trên toàn quốc. Cơ sở dữ liệu này giúp tăng cường tính minh bạch trong quá trình quản lý nhà nước, đồng thời giúp người dân và doanh nghiệp có thể tra cứu thông tin doanh nghiệp một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Các doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ tự động có thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, giúp công tác quản lý và giám sát doanh nghiệp trở nên thuận lợi hơn.
- Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử:
Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị định 43/2010 là việc quy định về đăng ký doanh nghiệp trực tuyến qua mạng điện tử. Điều này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời giảm tải áp lực cho cơ quan nhà nước.
Các doanh nghiệp có thể lựa chọn nộp hồ sơ qua hệ thống đăng ký trực tuyến, với quy trình tương tự như đăng ký trực tiếp. Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ trực tuyến và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp qua hình thức điện tử.
- Thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp:
Trong quá trình hoạt động, nếu có bất kỳ thay đổi nào về thông tin đăng ký (ví dụ: thay đổi người đại diện theo pháp luật, thay đổi địa chỉ trụ sở chính, thay đổi ngành nghề kinh doanh), doanh nghiệp phải làm thủ tục đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thay đổi. Nghị định cũng quy định các thủ tục chi tiết cho việc đăng ký thay đổi này, giúp doanh nghiệp thực hiện dễ dàng và nhanh chóng.
- Xử lý vi phạm trong đăng ký doanh nghiệp:
Nghị định 43/2010 quy định rõ các hành vi vi phạm liên quan đến quá trình đăng ký doanh nghiệp như cung cấp thông tin sai sự thật, không thông báo kịp thời các thay đổi trong thông tin đăng ký, hay không tuân thủ quy định về vốn pháp định. Các hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm. Cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm này.
- Giải thể doanh nghiệp:
Nghị định cũng đưa ra các quy định cụ thể về việc giải thể doanh nghiệp, bao gồm các trường hợp giải thể, quy trình thực hiện giải thể và trách nhiệm của các bên liên quan. Doanh nghiệp phải thông báo về việc giải thể và hoàn tất các nghĩa vụ tài chính trước khi được công nhận chính thức ngừng hoạt động.
>> Xem thêm bài viết Thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh có điều kiện
2. Câu hỏi thường gặp
Nghị Định 43/2010/NĐ-CP có những thay đổi quan trọng nào so với các văn bản trước đó về đăng ký doanh nghiệp?
Nghị Định 43 mang lại những điều chỉnh và cải tiến trong quy trình đăng ký, nhằm giảm bớt thủ tục, tăng tính minh bạch, và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.
Có cần phải thông báo khi thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp theo Nghị định 43/2010 không?
Có, doanh nghiệp phải thông báo cho Phòng Đăng ký kinh doanh khi có bất kỳ thay đổi nào liên quan đến thông tin đã đăng ký như thay đổi địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật, ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ, hoặc thay đổi thành viên/cổ đông. Thời hạn thông báo là 10 ngày kể từ ngày có thay đổi.
Nghị định 43/2010/NĐ-CP áp dụng cho những đối tượng nào?
Nghị định 43/2010/NĐ-CP áp dụng cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc đăng ký thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam. Bao gồm các loại hình doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và các chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.

HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN